Tin tức

Thông gió không gian hạn chế: quy chuẩn bắt buộc và cách chọn quạt

16/09/2026Phạm Thanh Hải

Thông gió không gian hạn chế: quy chuẩn và cách chọn quạt

Thông gió không gian hạn chế đúng quy chuẩn nghĩa là cấp đủ không khí sạch trước khi có người xuống và suốt thời gian họ còn ở bên trong, với khí lấy từ nguồn sạch bên ngoài. Yêu cầu này nằm ở điều 2.2.5, QCVN 34:2018/BLĐTBXH, và là nghĩa vụ bắt buộc của đơn vị cho người xuống.

Hố ga, bể phốt, giếng khoan, bồn chứa: nhìn thì chỉ là một cái hố có nắp đậy. Nhưng không khí dưới đáy có thể thiếu oxy hoặc chứa khí độc mà người đứng trên miệng không ngửi thấy gì. Bài này đi theo đúng thứ tự bạn cần khi sắp cho người xuống: quy chuẩn buộc làm gì, khí nào nằm ở tầng nào, nên thổi vào hay hút ra, vì sao quạt không thay được máy đo khí, và cuối cùng mới tới chuyện chọn quạt theo cỡ lối vào.

Tóm tắt nhanh
– QCVN 34:2018 buộc cấp khí sạch trước và suốt thời gian có người bên trong, khí lấy từ nguồn sạch bên ngoài.
– Quạt không thay máy đo khí: thông gió xong vẫn phải đo, có giấy phép, có người canh ở ngoài.
– Thổi khí sạch vào là cách mặc định. Hút ra khi công việc bên trong tự sinh khói hoặc hơi.
– Có khí dễ cháy thì không dùng quạt thường.

Không gian nào bị tính là không gian hạn chế

QCVN 34:2018/BLĐTBXH định nghĩa không gian hạn chế ở điều 1.3.1. Một chỗ làm việc bị tính là không gian hạn chế khi có đủ cả bốn đặc điểm: đủ lớn để chứa người làm việc; về cơ bản không được thiết kế cho người vào làm thường xuyên; có một hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại theo mục 1.3.2; và bị hạn chế về không gian, về trao đổi khí với bên ngoài, hoặc về lối ra vào.

Trên công trường và trong nhà máy, danh sách này rất quen: bể nước, hầm, cống, giếng, bể phốt, hố ga, bồn bể chứa, khoang tàu. Một trong các yếu tố nguy hiểm mà mục 1.3.2 nêu đích danh là hàm lượng oxy dưới 19,5% thể tích, tức không đủ để người vào làm việc thở.

Bốn điều kiện để một chỗ làm việc bị tính là không gian hạn chế theo điều 1.3.1 QCVN 34:2018

Phần bắt buộc thông gió nằm ở điều 2.2.5. Nguyên văn:

“Phải đảm bảo việc thông gió tự nhiên phù hợp hoặc cấp đủ không khí sạch vào không gian hạn chế trước và trong suốt quá trình con người làm việc bên trong; hoặc phải có biện pháp đảm bảo cung cấp dưỡng khí trực tiếp cho từng người lao động trong không gian hạn chế. Việc thông gió, cung cấp không khí vào không gian hạn chế phải lấy từ một nguồn không khí sạch bên ngoài. Phải đảm bảo không khí thải từ bên trong không gian hạn chế ra bên ngoài không gây nguy hại cho những người làm việc bên ngoài, xung quanh không gian hạn chế đó.”

Điều 2.2.5, QCVN 34:2018/BLĐTBXH

Ba câu, ba nghĩa vụ. Câu đầu nói khi nào: trước và suốt ca. Câu thứ hai nói lấy khí ở đâu: nguồn sạch bên ngoài. Câu thứ ba hay bị bỏ qua nhất, và chính nó quyết định chỗ đặt đầu xả: khí đẩy ra khỏi hố không được làm hại người đứng quanh miệng hố. Tài liệu an toàn lao động hay gọi chung việc này là thông gió không gian kín, và mọi phương án thổi hay hút bên dưới đều bám ba câu đó.

Không chắc hạng mục của mình có thuộc diện này không, hay chưa biết lối vào cỡ đó lọt được quạt nào? Chụp miệng lối vào kèm thước đo, gửi qua Zalo 0902.261.070, kỹ sư SSB trả lời trong 15 phút.

Khí nào nguy hiểm trong không gian kín, và mỗi loại tích ở tầng nào

Mỗi loại khí nặng nhẹ khác nhau nên nằm ở những tầng khác nhau trong cùng một cái hố. Quy tắc rút ra cho người đặt quạt: khí nằm ở đâu thì khí sạch phải được đưa tới đó.

Khí Nguy hiểm chính Tích ở đâu Có báo trước bằng mùi không
H₂S (hydro sunfua) Độc, gặp nhiều ở bể phốt, hố ga, cống thải Đáy hố, vì nặng hơn không khí Có mùi trứng thối ở nồng độ thấp. Ở nồng độ cao người hít mất khả năng ngửi, nên hết mùi không có nghĩa là hết khí
CO (cacbon monoxit) Độc, sinh ra từ động cơ đốt trong: máy bơm, máy phát chạy xăng dầu Lan khắp khoang, dồn nhanh khi có động cơ chạy trong hoặc gần miệng Không. Không màu, không mùi
CH₄ (mê-tan) Dễ cháy nổ, chiếm chỗ oxy Trên cùng, sát nắp, vì nhẹ hơn không khí Không
CO₂ và N₂ Chiếm chỗ oxy, gây ngạt CO₂ nặng hơn không khí nên nằm đáy. N₂ gặp khi bồn vừa được làm sạch hoặc bảo quản bằng khí trơ Không

Nguồn đặc tính khí: tài liệu huấn luyện an toàn lao động và ý kiến chuyên môn của Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai đăng trên vietq.vn. Máy bơm, máy phát chạy xăng dầu đặt trong hoặc sát không gian kín là nguồn CO tích rất nhanh, theo cùng nguồn.

Mặt cắt hố ga cho thấy CH₄ dồn sát nắp, CO lan khắp khoang, H₂S và CO₂ đọng đáy, ống cấp khí thả xuống tận đáy

Nối bảng với chuyện thông gió:

  • H₂S và CO₂ nằm đáy → đầu ống cấp khí phải được thả xuống tận vùng người làm việc, gần đáy. Thổi ở miệng hố chỉ khuấy lớp trên, lớp khí độc bên dưới gần như không suy chuyển.
  • CH₄ nằm trên cùng → mở nắp là bước thông gió đầu tiên, nhưng cũng là lúc khí dễ cháy tràn ra miệng. Có nghi mê-tan thì đọc phần khí dễ cháy ở cuối bài trước khi cắm điện bất cứ quạt nào.
  • Oxy: điều 4.1 của QCVN 34:2018 đặt giới hạn cho phép của không khí trong không gian hạn chế là lượng oxy từ 19,5% đến 23,5% tính theo thể tích. Thấp hơn là thiếu, cao hơn cũng là ngoài giới hạn.

Ngưỡng ppm cho H₂S hay CO cố ý không đưa vào đây. Hai con số đó để máy đo khí và người đo khí được giao nhiệm vụ đọc tại hiện trường, vì mũi người không ước được nồng độ.

Thông gió không gian hạn chế: thổi khí sạch vào hay hút khí bẩn ra

Mặc định là thổi khí sạch vào. Hút ra dùng khi chính công việc bên trong sinh ra khói hoặc hơi. Kết hợp cả hai khi không gian dài hoặc sâu. Cách nào thì thông gió không gian kín cũng phải thỏa hai vế của điều 2.2.5: khí vào lấy từ nguồn sạch, khí ra không làm hại người bên ngoài.

Ba cách thông gió không gian hạn chế: thổi khí sạch vào, hút khí bẩn ra, hoặc kết hợp cả hai cho không gian dài và sâu

Thổi khí sạch vào: cách mặc định

Thổi vào khớp thẳng với câu “cấp đủ không khí sạch” của điều 2.2.5. Quạt đặt trên miệng, hút khí bên ngoài rồi đẩy xuống qua một đoạn ống gió mềm tới vùng người làm việc. Khí sạch dồn xuống đáy, đẩy lớp khí cũ trào lên qua miệng hố.

Hai chỗ quyết định cách này có hiệu quả hay không:

  • Đầu lấy khí: đặt nơi khí sạch thật, tránh xa ống xả máy phát, xe tải, máy đầm. Quạt hút ngay cạnh ống xả rồi thổi xuống hố là đang bơm CO vào chỗ có người.
  • Đầu ống ra: phải tới vùng thở của người bên dưới. Ống ngắn chỉ chạm miệng hố thì lớp đáy, nơi H₂S và CO₂ nằm, vẫn đứng yên.

Máy phát điện cho quạt đặt ở đâu là câu hỏi riêng, có ở phần câu hỏi cuối bài.

Hút khí ra: khi công việc tự sinh khói hoặc hơi

Hàn, cắt, sơn, tẩy rửa bằng dung môi bên trong bồn hay khoang tàu: nguồn khí bẩn lúc này nằm ngay tay người thợ. Thổi vào không đủ vì khói sinh ra liên tục, nên đặt đầu hút sát chỗ phát sinh để kéo khói đi trước khi nó lan khắp khoang.

Vế thứ ba của điều 2.2.5 áp vào đúng chỗ này. Khí hút lên phải xả ra nơi không có người, cuối gió, xa lối đi và xa người canh gác đứng ở miệng hố. Xả ngay cạnh miệng là chuyển nguy hiểm từ người bên trong sang người bên ngoài.

Kết hợp thổi và hút: không gian dài hoặc sâu

Đường cống dài, khoang tàu nhiều ngăn, bồn lớn có một người làm ở đầu xa: một quạt thổi không đẩy khí tới được hết. Lúc đó dùng hai quạt, một thổi vào, một hút ra.

Lỗi hay gặp nhất là đặt hai đầu ống quá gần nhau. Khí vừa thổi vào đã bị đầu hút kéo ra ngay mà chưa đi qua chỗ người làm việc, gọi là ngắn mạch khí. Hai quạt chạy đủ công suất mà vùng làm việc gần như không được thay khí. Cách tránh: đầu thổi đưa tới vị trí người làm, đầu hút đặt ở phía đối diện hoặc đầu xa của không gian, để dòng khí buộc phải quét qua vùng làm việc.

Thổi gió rồi vẫn phải đo khí trước khi cho người xuống

Phải đo. Quạt chạy bao lâu cũng không thay được bước đo khí, và QCVN 34:2018 tách hai việc này thành hai vai trò riêng. Trình tự làm được, theo đúng thứ tự:

  1. Mở nắp và thông gió từ trên miệng, chưa ai xuống.
  2. Người đo khí đo oxy, khí độc và khí dễ cháy. Điều 1.3.7 quy định người đo khí là người được giao nhiệm vụ đo, đảm bảo các chỉ số nằm trong giới hạn an toàn trước và trong khi làm việc.
  3. Cấp phép vào. Điều 2.2.2: không ai được phép vào bên trong không gian hạn chế nếu chưa được cấp phép.
  4. Vào làm việc, có người canh gác ở ngoài. Điều 1.3.6 quy định người canh gác đứng ở ngoài hoặc gần lối vào, theo dõi người ra vào và giữ liên lạc với người bên trong.
  5. Thông gió liên tục suốt thời gian làm việc, đúng vế “trước và trong suốt” của điều 2.2.5. Tắt quạt giữa ca là lớp khí độc bắt đầu tích lại.
  6. Đo lại khi công việc hoặc điều kiện thay đổi: bắt đầu hàn, đổi ca, mất điện quạt, có dòng nước thải mới chảy vào.

⚠️ Quạt làm loãng khí, nhưng không cho biết khí đã loãng tới đâu. Chỉ máy đo trả lời được câu đó. Không có con số “thổi X phút là an toàn” nào dùng được cho mọi hố, vì thời gian cần thiết phụ thuộc thể tích, loại khí và lượng khí đang tiếp tục sinh ra.

Ba việc đi kèm thuộc chương trình huấn luyện an toàn lao động: người vào phải được huấn luyện về làm việc trong không gian hạn chế; phải có bảo hộ cá nhân phù hợp với loại khí đã đo; và phải có phương án cứu hộ trước khi mở nắp, vì người lao xuống cứu đồng nghiệp mà không có dưỡng khí thường thành nạn nhân thứ hai.

Chọn quạt theo lối vào và độ sâu của không gian hạn chế

Chọn theo lối vào trước, giá và lưu lượng sau. Miệng quạt và ống phải lọt được qua lối vào, trong khi lối vào đó vẫn phải chừa chỗ cho người, thang và dây cứu hộ. Đây là ràng buộc vật lý mà trang bán hàng thường không nhắc.

Dòng dùng cho việc này là quạt hút xách tay: thân tròn có tay xách và chân đế, một người mang tới miệng hố, đấu ống mềm rồi thả xuống. Khác quạt thông gió tròn vốn lắp cố định xuyên tường để thay khí cả xưởng, quạt xách tay đi theo công việc và đổi vị trí mỗi ca. Thân, khung và tay xách bằng thép sơn tĩnh điện, cánh hợp kim.

Loại lối vào Dải cỡ miệng quạt Ví dụ dòng (lưu lượng theo WooCommerce) Ghi chú
Miệng hố ga, nắp bồn nhỏ 150–250 mm Dasin TGP-0615: 150 mm, 780 m³/h, hút và thổi hai chiều · các dòng 200–250 mm: 1.500–2.580 m³/h Ống nhỏ, chừa được chỗ cho người qua cùng lối
Cửa bể, cửa hầm cỡ vừa 300–450 mm 300 mm khoảng 3.780–3.900 m³/h · 450 mm từ 7.500 m³/h (họ SHT) đến 9.720 m³/h (Afan AFT, Daisy DYXT) Cỡ phổ biến nhất cho bể và hầm
Hầm, khoang lớn, ống kéo dài 400–600 mm Afan AFT2 cao áp: 5.760 / 12.000 / 17.400 m³/h ở cỡ 400 / 500 / 600 mm Loại cao áp đẩy được khí qua quãng ống dài hơn

Lưu lượng trong bảng là số nhà sản xuất ghi cho miệng quạt. Qua một đoạn ống dài và có khúc gập, lưu lượng thực tới đáy hố thấp hơn.

Khối tính 1: ống chiếm bao nhiêu lối vào. Giả sử lối vào là miệng tròn đường kính 600 mm.

  • Diện tích lối vào: 3,14 × 0,3² ≈ 0,283 m².
  • Ống 300 mm: 3,14 × 0,15² ≈ 0,071 m², chiếm khoảng 25% lối vào.
  • Ống 450 mm: 3,14 × 0,225² ≈ 0,159 m², chiếm khoảng 56% lối vào.

Với lối 600 mm, ống 450 mm chiếm hơn nửa lối, gần như không còn chỗ cho người lên xuống cùng lúc. Ở lối cỡ này, cách hợp lý là ống nhỏ hơn, hoặc đưa ống qua một lỗ mở khác nếu công trình có. Đường kính 600 mm ở đây là giả định đầu vào để minh họa; đo lối vào thật trước khi chọn.

Ống Ø300 chiếm 25% và ống Ø450 chiếm 56% lối vào tròn Ø600 mm, phần vành còn lại dành cho người và thang

Khối tính 2: tăng cỡ miệng thì lưu lượng tăng bao nhiêu. Lấy hai đầu dải nhỏ trong kho:

  • Miệng 150 mm (TGP-0615): 780 m³/h.
  • Miệng 450 mm: 7.500–9.720 m³/h tùy dòng.
  • Miệng rộng gấp 3 lần, diện tích miệng gấp 3² = 9 lần, lưu lượng gấp 7.500 ÷ 780 ≈ 9,6 đến 9.720 ÷ 780 ≈ 12,5 lần.

Nghĩa là lối vào nhỏ ép bạn xuống cỡ quạt nhỏ, và lưu lượng giảm theo diện tích chứ không giảm tuyến tính theo đường kính. Không gian lớn mà lối vào hẹp là tình huống phải tính kỹ nhất, vì một quạt 150 mm không cấp nổi lượng khí mà khoang đó cần. Số liệu: WooCommerce của quatmatcongnghiep.net, cập nhật 09/2026.

Muốn tính lượng khí cần theo thể tích không gian thì làm theo cách tính lưu lượng gió cho nhà xưởng, cùng công thức thể tích nhân số lần thay khí, rồi đối chiếu với cột lưu lượng ở bảng trên.

Chọn bản 1 pha hay 3 pha thì hỏi tại chỗ đang có nguồn điện gì, không phải hỏi cần quạt mạnh cỡ nào. Hướng dẫn chọn theo nguồn điện nằm ở trang quạt hút công nghiệp.

Có kích thước lối vào và độ sâu rồi mà vẫn phân vân giữa hai cỡ? Nhắn hai số đó qua Zalo 0902.261.070, chúng tôi đề xuất cỡ quạt và chiều dài ống phù hợp.

Không gian có khí dễ cháy thì dùng quạt gì

Hầm lò có mê-tan, két nhiên liệu trên tàu còn hơi xăng dầu, bồn chứa dung môi: ở những chỗ này, tia lửa từ motor và công tắc của một chiếc quạt đủ làm nguồn gây cháy. Quạt thường không dùng ở đây. Chỗ có khí hoặc hơi dễ cháy phải dùng quạt hút phòng nổ, và việc xác định khu vực nào bắt buộc phòng nổ được bàn ở trang đó.

Câu hỏi thường gặp

Trước khi xuống hố ga cần thổi gió bao lâu?

Không có con số chung nào an toàn cho mọi hố ga. Thời gian phụ thuộc thể tích hố, loại khí và lượng khí đang tiếp tục sinh ra từ nước thải. Cách đúng là thổi gió, rồi để người đo khí đo oxy, khí độc và khí dễ cháy. Chỉ khi các chỉ số nằm trong giới hạn và đã có giấy phép thì mới cho người xuống, và quạt vẫn chạy suốt thời gian làm việc.

Thổi oxy nguyên chất vào cho nhanh có được không?

Không. Điều 2.2.5 của QCVN 34:2018 yêu cầu cấp “không khí sạch”, và điều 4.1 đặt giới hạn trên cho oxy là 23,5% thể tích. Tài liệu huấn luyện an toàn lao động cảnh báo oxy ở nồng độ cao làm quần áo và vật liệu bắt cháy rất nhanh, chỉ một tia lửa hàn là đủ. Thiếu oxy thì thổi không khí sạch từ bên ngoài vào, không thổi oxy bình.

Đầu ống cấp khí nên thả sâu tới đâu?

Tới vùng thở của người làm việc. Khi có H₂S hoặc CO₂, hai khí nặng hơn không khí, đầu ống phải xuống gần đáy vì đó là nơi chúng tích lại. Đầu ống dừng ở miệng hố thì lớp đáy gần như không được thay khí. Khoảng cách cụ thể tùy độ sâu hố, loại khí đo được và vị trí người đứng làm; người đo khí nên kiểm lại ở tầng đáy sau khi quạt chạy.

Có văn bản nào bắt buộc thông gió không gian hạn chế không?

Có. Văn bản buộc thông gió không gian kín là QCVN 34:2018/BLĐTBXH, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động khi làm việc trong không gian hạn chế. Điều 2.2.5 buộc cấp đủ không khí sạch trước và suốt thời gian có người bên trong, khí lấy từ nguồn sạch bên ngoài, và khí thải ra không được gây hại cho người xung quanh. Điều 4.1 đặt giới hạn oxy từ 19,5% đến 23,5%.

Máy phát điện nên đặt ở đâu khi đang thông gió?

Xa đầu lấy khí của quạt và cuối gió so với miệng hố, vì khí xả máy phát chứa CO. Cách bố trí máy phát, quạt và ống trên công trường được viết chi tiết trong bài thông gió tầng hầm khi thi công.

Kết bài: bốn việc trước khi cho người xuống

Thông gió không gian hạn chế chỉ là mắt xích đầu tiên. Cả chuỗi gồm bốn việc, đúng thứ tự:

  • Thông gió trước: mở nắp, thổi khí sạch lấy từ nguồn bên ngoài, đầu ống xuống tới vùng làm việc.
  • Đo khí: người đo khí xác nhận oxy trong khoảng 19,5–23,5%, khí độc và khí dễ cháy trong giới hạn.
  • Cấp phép và người canh: không ai xuống khi chưa có giấy phép, luôn có người canh ở miệng.
  • Thông gió suốt ca: quạt không tắt khi còn người bên dưới, đo lại khi điều kiện đổi.

Phần thiết bị thì bắt đầu từ lối vào. Gửi kích thước lối vào và độ sâu qua Zalo hoặc hotline 0902.261.070, kỹ sư SSB đề xuất cỡ quạt và ống, kèm phương án thổi, hút hay kết hợp cho đúng hạng mục của bạn. Bảo hành 12–24 tháng tùy dòng, bảo hành tại nhà.